Tin tức Hội đồng hương Hải Lý

Tin tức xã Hải Lý

Đến Xã Hải Lý ngắm nhà thờ cổ hoang tàn trên bãi biển 

  Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vốn nổi tiếng với hệ thống nhà thờ đẹp, trong đó có xã Hải Lý.

Tuy nhiên, dọc bãi biển nước biển xâm thực đã phá hủy đi những nhà thờ này.

Lịch sử đã ghi nhận, vào năm 1996, biển xâm lấn vào đất liền dài hơn 1km, khiến ngôi làng dọc bãi biển Xương Điền "biến mất", một số công trình kiến trúc lớn như nhà thờ bị sóng đánh đổ. Tuy nhiên sự đổ nát này lại khiến nơi đây trở thành điểm đến của nhiều du khách bởi vẻ đẹp hoang tàn cổ kính của nó.
Hiện tại ven biển thuộc xã Hải Lý chỉ còn nhà thờ thánh Maria Madalena, nhưng cũng không được nguyên vẹn. Tường gạch của nhà thờ đã và đang bị bào mòn theo thời gian, cây cỏ mọc đầy...
Toàn cảnh khu nhà thờ đổ còn sót lại tại bãi biển xã Hải Lý.
Kiến trúc của các nhà thờ này được thiết kế rất công phu, đẹp mắt và bền vững.
Tuy nhiên, sóng, gió của biển đã và đang phá hủy, bào mòn những công trình này.

Cây cỏ mọc đầy trên những bức tường của nhà thờ.
Nhà thờ thánh Maria Madalena nhìn toàn thể
Nhà thờ thánh Maria Madalena
Nhà thờ thánh Maria Madalena .
Kiến trúc của nhà thờ với những cửa vòm, những cột trụ


Những dấu tích nay trơ trọi như những ốc đảo, trước sự bao quanh của nước biển.
Những dấu tích nay trơ trọi như những ốc đảo, trước sự bao quanh của nước biển.


Để ngăn chặn sự xâm thực của biển cả, chính quyền địa phương đã tiến hành xây dựng đê bao. Phía trong làng, những nhà thờ mới đã được dựng lên.






Ngay cạnh những ngôi nhà thờ đổ, người dân nơi đây vẫn hàng ngày ra khơi bám biển.

 

Tin tức huyện Hải Hậu

I. TỪ THỜI MỞ ĐẤT ĐẾN THÀNH LẬP HUYỆN HẢI HẬU (1485-1888)
 

1. TỔNG QUẦN PHƯƠNG
Khoảng 1485-1486, Các cụ Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập từ Xối Nước xuống bãi bồi Lạch Lác khai khẩn lập đất Phú Cường (nay là Xóm 6 – xã Hải Trung), sau đó mở rộng xuống phía Tây, Nam. Thế kỷ XV, bãi bồi Lạch Lác mở rộng gọi là Cồn Ấp, sông Lạch Lác đổi thành sông Cường Giang. Sau đó, cửu tộc về mở đất cùng lập lên vùng đất mới lấy chữ Phú và Cường để đặt tên.
Tiến hành đắp đê Đông, đê Đồng Mục, đê Hồng Đức để bảo vệ. Cuối thế kỷ XV đổi tên Cồn Ấp thành Ấp Quần Cường.
- Đoạn sông giữa lập 10 Giáp (từ Giáp Nhất đến Giáp Thập), nối hai bờ sông là các cầu Phe Sáu, Phe Ba…
- Xung quanh 10 Giáp lập 4 thôn để cho người sau đến kiến thiết như trong làng: Nam Cường (tên khác là Trung Cường); Bắc Cường; Đông Cường; Tây Cường (tên khác là An Cường). Năm 1511 (thời Lê Tương Dực), Ấp Quần Cường được nâng lên thành xã Quần Anh thuộc Tổng Thấn Lộ - Huyện Tây Chân - Phủ Thiên Trường - Trấn Sơn Nam.Quá trình phân lập các xã mới :
- Quá trình khẩn hoang lập xã Phương Đê.
+ Ở vùng Tây Bắc Quần Anh các cụ Mai Cư Sỹ (từ Quần Mông), Phạm Huyên Chân (là cháu 5 đời của Đào Sư Tích lánh nạn diệt tộc ở Cổ Lễ), Phạm Huệ Tài (ở Cổ Lễ), Nguyễn Chính Trực (ở Tống Sơn – Thanh Hoá) họp ở Cầu Gai năm 1516 để xuống Nam Cường Giang lập ấp mới.
+ Cụ Mai Cư Sỹ xuống bãi bồi Tây Quần Cường trồng bãi tre định vị (trúc mô định vị), Cụ Huyền Chân đắp viễn mô kiến ấp. Sau đó từ Cầu Gai các cụ chuyển xuống Kiến Sở (Bắc sông Cường Giang) để tiện khai khẩn. Từ đó, dân các họ Nguyễn, Trần, Đỗ, Nguyễn, Trần, Đào, Bùi, Vũ xuống khai khẩn.
+ Về sau các cụ lấy ngòi Rảo làm trục đất di cư từ Kiến Sở sang. Thời Lê Trung Tông (1548-1556) lập Ấp Kim Đê. Đến thời Lê Vĩnh Tộ (1619-1629) thăng thành xã Kim Đê.
- Quá trình phân lập tứ thôn của xã Quần Anh : Nối tiếp tứ tính, Cửu tộc, 16 dòng họ Ninh- Bùi-Phạm-Nguyễn-Đào-Lương-Vương-Kim-Nguyễn-Ông-Phạm-Lưu-Trấn-Phạm-Vi-Đặng (kế chí liệt tổ) và các dòng họ sau đó gọi là hậu trí liệt tổ về sinh sống.
+ Thôn Bắc Cường do dân chài bắc sông Cường Giang đánh cá, trồng cói lập nên sau phân chia ra: Đất Đầm Cát (gồm Thôn Phạm Rỵ (Xã Trung Hoà); Thôn Hùng Mỹ (năm 1884 được thăng thành xã); thôn An Ninh); Thôn Phạm Pháo (xã Trung Hoà); Xã Cát Thượng (từ 1719-1729) thuộc Cát Chử; Cát Chử, Trại Đáy (sau thuộc Quần Anh Thượng) chỉ còn Phú Cường thuộc Quần Anh.
+ Thôn Tây Cường: năm 1723, nhân dân xin biệt xã do đi lại khó khăn do Bắc Cường bị thu hẹp, sau được chấp nhận lập thành xã Ninh Cường, Sông Cường Giang đổi tên thành sông Ninh Cơ.
+ Thôn Nam Cường: thế kỷ XVIII dân chúng về sinh sống nhiều nên chia ra thành thôn Nam Biên (Phía Đông), thôn Nam Cường (Phía Tây).
+ Thôn Đông Cường: cùng thời với việc tách thôn Nam Cường cũng tách ra thành 3 thôn: Đông Cường, Đông Biên, Bắc Biên.
- Ngày 20/11/1803 các thôn Đông Cường, Đông Biên, Bắc Biên do cụ Nguyễn Vũ Cảnh, Nguyễn Duy Thì, Nguyễn Đình Huyên có sự hậu thuẫn của linh mục xứ làm đơn xin triều đình chia xã. Ngày 22/3/Giáp Tý (1804) tiến hành khám đạc và chia xã. Ngày 15/4/1804 đại diện 3 xã ký giấy thoả thuận thi hành. Theo đó, xã Quần Anh được chia làm 3 xã:
+ Xã Quần Anh Thượng (gồm từ Giáp Lục đến Giáp Thập và thôn Trung Cường).
+ Xã Quần Anh Trung (gồm từ Giáp Nhất đến Giáp Ngũ và thôn Nam Biên).
+ Xã Quần Anh Hạ (gồm 3 thôn Đông Cường, Đông Biên, Bắc Biên).Đồng thời xã Ninh Cường chia ra 4 phường, trại, lý, xã gồm: Phường Lác Môn, Lác Môn Trại, Tân Lác Lý, xã Ninh Cường.Năm 1822, các xã trên thuộc Trấn Nam Định. Năm 1827, tách khỏi Tổng Kim Giả để thành lập Tổng Quần Anh thuộc huyện Nam Chân. Từ 1833 thuộc huyện Nam Chân. Tổng Quần Anh gồm: Xã Quần Anh Thượng, Xã Quần Anh Trung, Xã Quần Anh Hạ, Xã Kim Đê; Phường Lác Môn, Lác Môn Trại, Tân Lác Lý, xã Ninh Cường.
- Thành lập Phú Lễ Ấp và 2 lý Lục Phương, Quỳnh Phương:
+ Năm 1824, cụ Nguyễn Gia Huệ (ở Giáp Thập, xã Quần Anh Thượng)chuyển về Ngũ Trùng làm nghề đơm đó cùng Lâm Tuấn Đức (người Trung Hoa) lập đất Kim Anh Lý.
+ Năm 1880, ở Nam Phú Văn Lý, các cụ Trần Tư (ở Quần Anh Thượng), Phùng Bá Tỉnh, Quán Yên Ruyên (từ Mỹ Lộc), Nguyễn Thiệu Mô, Quán Trà Lũ (từ Xuân Trường) cùng người trong thôn đắp đê Trùng Nhất xung quanh, bên trong lập nên Phú Lễ Ấp.
+ Thành lập Lý Lục Anh.Năm 1862 do kỹ huý miếu hiệu Nguyễn Kim, Lý Kim Anh đổi thành Lỹ Quỳnh Anh, xã Kim Đê thành xã Phương Đê. Năm 1887, do kỵ huý Tự Đức các xã Quần Anh Thượng, Quần Anh Trung, Quần Anh Hạ đổi thành các xã Quần Phương Thượng, Quần Phương Trung, Quần Phương Hạ, Lý Lục Anh thành Lý Lục Phương, Lý Quỳnh Anh thành Lý Quỳnh Phương. Tổng Quần Anh thành tổng Quần Phương.Ngày 27/12/1888, kinh lược Bắc Kỳ quyết định thành lập Huyện Hải Hậu tách khỏi Huyện Chân Ninh. Tổng Quần Phương thuộc Huyện Hải Hậu gồm 7 xã, lý, ấp: xã Quần Phương Thượng, xã Quần Phương Trung, xã Quần Phương Hạ, xã Phương Đê, 2 lý: Lục Phương, Quỳnh Phương và Phú Lễ Ấp. Đồng thời tách Phường Lác Môn, Lác Môn Trại, Tân Lác Lý, xã Ninh Cường ra lập Tổng Ninh Cường thuộc Huyện Chân Ninh.
(Về vùng đất tách khỏi Tổng Quần Phương - Huyện Hải Hậu khác:- Đầu thế kỷ XX, các xã Cát Chử, Trung Hoà, Hùng Mỹ, An Ninh thuộc Tổng Ngọc Giả Hạ- Huyện Trực Ninh.- Năm 1948, Xã Cát Thượng, thôn Phạm Rỵ, Cát Trung, Cát Hạ, Tuân Chử thuộc xã Minh Đức (Năm 1952 đổi tên thành Trực Đại); xã Hùng Mỹ, xã An Ninh, Phú An, Hương Cát (ở Bắc sông Ninh Cơ) thuộc xã Hợp Thịnh. Cả 2 xã này đều thuộc Huyện Trực Ninh.
- Năm 1956, các thôn, xã Phạm Rỵ, Hùng Mỹ, An Ninh, Nam Long sáp nhập vào xã Hải Thành. Thôn Cát Thượng phần lớn sáp nhập vào xã Hải Anh, xóm 46 sáp nhập vào xã Hải Bình).

2. TỔNG KIÊN TRUNG
- Thành lập xã Kiên Trung:
+ Tiếp giáp khu vực Quần Mông nơi có sông Rộc và sông Ninh Cơ chảy qua ở Kiên Lao, có hai cha con trở đò tên Thưởng và Tứ và một số dân làng qua sông khẩn hoang lập nên Trại Đò (nay là Xóm- 1 xã Hải Vân).
+ Sau đó, các họ Ngô-Đặng-Bùi-Lễ-Đỗ và mở đất lập nên ấp Kiên Trung thuộc xã Kiên Lao.
+ Sau đó, mở đất đến ngang Trà Hải Trung gặp người Quần Mông ép sang phía Đông gây nên tranh chấp ở vùng Vân Đồn, 2 bên lập nên 3 mộ 9 miếng rồi người Kiên Trung mở đất xuống phía Nam và Tây đến giáp Quần Anh (nay là xã Hải Bắc) đến chân sóng (nay là xã Hải Quang).
+ Năm 1818 tách khỏi Kiên Lao lập nên xã Kiên Trung gồm 4 Giáp (Trung Thành, Thái Hoà, Hưng Nghĩa, Hưng Lễ).
- Thành lập các xã Hội Khê, Hội Nam, Trà Trung, Trà Hạ:
+ Phía Đông ấp Trại Đò tới cánh đồng Chóp Chài-đê Hồng Đức giáp sông Sò, cùng thời, người Hội Khê, Trà Thượng cùng một số dân đánh cá ở Thạch Cầu (Nga Sơn-Thanh Hoá) thuộc họ Lê-Phạm-Nguyễn-Trần-Mai thu bắt hải sản, đánh cá khai khẩn lập đất Trại Đăng. Sau đó mở rộng : lập 2 giáp Hội Khê Ngoại, Hội Khê Nam (thuộc xã Hội Khê Bắc); 2 giáp Trà Hải Trung (gồm thôn Trung Nghiêm và Trung Nhưng) và Trà Hải Hạ (gồm 2 thôn Phú Thọ và Xuân Hoà) (thuộc xã Trà Hải). Trong đó, Trà Hải Trung và Trà Hải Hạ hình thành từ khoảng 1675-1705 do cụ Trần Đức Tâm (từ Cát Chử) và các họ Mai (từ Trà Thượng), Hoàng (từ Cẩm Hà), Nguyễn (từ Xuân Thượng) lập nên.
+ Cụ Lê Đình Mai làm trong phủ chúa tâu với Đặng Thị Huệ xin chúa Trịnh Sâm (1767-1782) được chấp nhận để lập xã Hội Khê Ngoại và xã Hội Khê Nam.
+ Năm 1885, xã Trà Thượng phân thành 2 xã : Trà Hải Trung, Trà Hải Hạ (Đến năm 1888 mới phân biệt rõ thành 2 xã).
- Thành lập xã Hà Quang và Hà Lạn :
+ Đầu thế kỷ XVI, vùng tây cửa sông Hà Lạn có cồn cát nổi lên, dân đánh cá nhiều nơi tập trung đến. Trong đó có 2 họ sớm nhất là Lâm (từ Kiến Phúc- Trung quốc) và Nguyễn (từ An Cường-Hải Anh) lập nên Cẩm Hà Trang.
+ Từ 1619-1628, cụ Vũ Duy Hoà (từ Mô Trạch-Hưng Yên) cùng cha vợ Trần Quốc Thể, Phạm Hương Lan, Đỗ Minh Thông, Đoàn Công Cai cùng họ hang và nhân dân Cẩm Hà Trang trung khẩn, lấn biển về Tây khép kín đến đất Quần Anh lập nên 8 thôn: Thượng Phúc, Trung Tự, Phượng Đông, Phúc Tự, Phúc Thuỵ, Phúc Lộc, Phượng Đoài, Trung Lương (ấp Hà Lạn).
+ Thời Minh Mạng, lập thành xã Hà Quang (thay Cẩm Hà) và xã Hà Lạn.
- Xã Quần Mông : đất Quần Mông khai khẩn từ thế kỷ XV-XVII. Đến năm 1704, khi xẻ xong sông Gianh khoanh vùng ngăn mặn thì công cuộc khai khẩn được đẩy mạnh. Đến giữa thế kỷ XIX thành dải đất kéo dài từ chợ Đồn (nay tại xã Xuân Ninh) tới An Định.Tất cả các xã trên thuộc Tổng Kiên Lao-Huyện Giao Thuỷ-Phủ Xuân Trường. Năm 1888, tách khỏi Tổng Kiên Lao lập thành Tổng Kiên Trung thuộc Huyện Hải Hậu gồm 7 xã : Kiên Trung, Hội Khê Nam (Hội Nam), Trà Hải Trung (Trà Trung), Trà Hải Hạ (Trà Hạ), Hà Quang, Hà Lạn, Lạc Nam (trong đó xã Lạc Nam từ xã Quần Mông tách ra thôn Nam Lạc đến năm 1889 thành xã Lạc Nam gồm 4 giáp, thôn Quần Nam lúc đầu thuộc Huyện Hải Hậu sau tách gộp vào thôn Lạc Quần). Xã Hội Khê Ngoại thuộc Tổng Kiên Lao.

3. TỔNG NINH NHẤT:
Sau khi khởi nghĩa của Phan Bá Vành ở Trà Lũ thất bại, Nguyễn Công Trứ xin vua cho khai khẩn vùng đất hoang ở các huyện Giao Thuỷ, Chân Định được chấp nhận. Năm 1828, Minh Mạng cử ông làm Doanh điền xứ. Cùng với việc khai khẩn Tiền Hải, Kim Sơn, ông cho người vượt cửa Đáy khai hoang sang phía Đông (khi Quần Anh đắp xong con đê Tứ Trùng đang mở rộng xuống Nam đắp đê Ngũ Trùng). Ông chủ trương khai khẩn ở vùng xã Ninh Cường, Cát Giả (đã tách khỏi Quần Anh năm 1723).
- Đất An Lạc do Trần Viết Sỹ (từ Thuận Vy), Phan Tái Thường, Phan Tái Nghĩa (từ Phù Ủng-Hải Dương) mộ dân khai khẩn.
- Đất An Phú do Trần Xuân Khánh cùng bà con từ Cát Giả xuống khai khẩn.
- Đất An Lễ do Trần Tôn Nho làm đầu mội.
- Đất An Phong do an hem Nguyễn Khắc Hiến, Nguyễn Ban (từ Yên Nhân-Ý Yên) mộ dân.
- Đất An Nghiệp do an hem Nguyễn Doãn Cung, Nguyễn Ngọc Châm, Nguyễn Ngọc Dao, Nguyễn Ngọc Chú và 12 thủ mô từ Hành Thiện xuống.
- Đất An Nhân do anh em Hoàng Trọng Cát, Hoàng Trọng Huyên (từ Lương Hàn-Trực Ninh) thủ mộ .
- Đất An Trạch do Đặng Chiên Sóc từ Trực Ninh xuống mở.
- Đất An Đạo do Nguyễn Thôn Tính (từ Ninh Cường), Phạm Đình Quy, Nguyễn Văn Nguyên, Trần Văn Ân (từ Trà Lũ) xuống làm thủ mộ.
- Đất An Nghĩa do Nguyễn Khoản, Trương Lâm (từ Cổ Gia) làm thủ mộ.
- Vùng An Phú (xã Quần Anh Thượng) có cụ Trần Quang Hữu (từ Trà Lũ), Trần Như Làng (từ Quần Phương), Hoàng Văn Thế (từ Ninh Cường) mở thêm đất lập thành đất Phúc Hải. Sau đó Cửu An-Nhất Phúc đổi thành xã. Năm 1838, thành lập Tổng Ninh Nhất thuộc Huyện Chân Ninh-Phủ Thiên Trường. Năm 1888 tách về Huyện Hải Hậu. Tổng Ninh Nhất gồm 10 xã.

4. TỔNG TÂN KHAI:
Vùng Đông Nam huyện khi đất biển đang bồi, cồn cát nổi nên. Ngày 29/7/Giáp Tý (1864), cụ Đỗ Tông Phát cùng 117 tiên công lập minh ước xin triều đình khai khẩn. Tháng 11/1866 được Tự Đức chuẩn y, cử Đỗ Tông Phát làm phó sứ để khai khẩn. Ông cùng 117 tiên công, 2 hậu khẩn của 20 địa phương tới mở đất. Tháng 11/1864, đã đắp đê Ngự Hàm để ngăn mặn, ngăn sông Sâu, sông Cát, sông Hải Hậu đến năm 1885 thì hoàn thành. Dân Kiên Trung, Vọng Doanh, Phú Nhai, Hà Lạn, Quần Phương đến ở lập nên 4 lý công điền : Văn Lý, Tang Điền, Kiên Chính, Hoà Định (riêng Hoà Định, trước do dân xã Quần Anh Hạ khai khẩn).
Năm 1888, lập thành tổng Tân Khai thuộc Huyện Hải Hậu. Như vậy, sau khi Huyện Hải Hậu được thành lập thuộc phủ Xuân Trường- Tỉnh Nam Định gồm 4 tổng với 28 xã, lý, ấp. Huyện lỵ đặt tại xóm Đào Mãn- Thôn Đông Cường- xã Quần Anh Hạ.

II. HUYỆN HẢI HẬU TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN 1945

1. TỔNG QUẦN PHƯƠNG:
  Năm 1890, hai lý Lục Phương, Quỳnh Phương và xã Phú lễ tách khỏi Tổng Quần Phương vào lập Tổng Ninh Mỹ. Năm 1thực dân Pháp và chính quyền Nam triều cắt phía Nam các xã Quần Phương Thượng, Quần Phương Trung, Quần Phương Hạ mỗi xã 100 mẫu ruộng và 100 chính đinh lập thành 3 trại Quần Phương Thượng Trại, Quần Phương Trung Trại, Quần Phương Hạ Trại. Đến năm 1890 cắt ra lập Tổng Ninh Mỹ.
Xã Quần Phương Thượng chia thành 4 xã:
- Năm 1893 lập Tả Hữu Giáo Giáp. Từ năm 1917-1919 thành xã Tả Hữu Giáo.
- Năm 1900 lập thôn Đông. Năm 1909 lập thành xã Quần Phương Đông.
- Từ 1917-1919, Tứ Trùng Nam Thôn tách ra lập xã Tứ Trùng Nam.
- Phần còn lại là xã Quần Phương Thượng.
Xã Quần Phương Trung chia thành 2 xã :
- Năm 1920, lập thôn Nam gồm từ Nhất Trùng đến Tứ Trùng. Năm 1921, tách ra lập xã Quần Phương Nam.
- Phần còn lại là xã Quần Phương Trung.
Xã Quần Phương Hạ chia thành 2 xã:
- Năm 1898, tách lập Hạ xã Nam Thôn.
- Phần còn lại là xã Quần Phương Hạ.
Xã Phương Đê tách làm 2 xã:
- Đầu thế kỷ XX, tách lập xã Giáp Thất.
- Phần còn lại là xã Phương Đê. Như vậy, đến năm 1945, Tổng Quần Anh có 10 xã.

2. TỔNG KIÊN TRUNG
Ngoài 3 xã ban đầu thành lập thêm 3 xã: Thanh Quang, Hà Nam, Phú Hải (trong đó xã Phú Hải vốn là đất cồn cát ở Đông tổng Quế Hải, người Hà Lạn, Xuân Trường khai khẩn).
3. TỔNG NINH NHẤT: không thay đổi vẫn gồm 10 xã.
4. TỔNG TÂN KHAI
Ngoài 4 xã ban đầu lập thêm 2 xã mới: xã Tang Văn (từ một phần của hai xã Văn Lý, Tang Điền), xã Xương Điền (thành lập năm 1920).
5. Thành lập TỔNG QUẾ HẢI :  
Từ 1864-1895 công cuộc khai hoang của Đỗ Tông Phát hoàn thành : 4 lý lập thành công điền ở phía Nam, còn 2 phần phía Bắc lập thành 6 xã tư điền : Trùng Quang, Thanh Trà, Trung Phương, Doanh Châu, Liên Phú, Quế Phương. Năm 1895, 6 xã này lập thành Tổng Quế Hải thuộc Huyện Hải Hậu. Năm 1896, ở Đông vùng Quế Hải. 16 khẩu hộ do Lâm Văn Hạnh, Nguyễn Văn Thứ làm quản mộ khai khẩn lập thành Hải Nhuận ấp. Sau thăng lên thành xã. Sau đó, ở cồn cát phía Đông Quế Hải, người Hà Lạn, Xuân Trường xuống khai khẩn. Năm 1910 lập Xuân Hà ấp. Sau thăng lên thành xã.

6. Thành lập TỔNG NINH MỸ: 
 Ngoài xã Phú Lễ; 2 lý Lục Phương và Quỳnh Phương; 3 trại Quần Phương Thượng Trại, Quần Phương Trung Trại, Quần Phương Hạ Trại tách từ Tổng Quần Phương ra, còn một số vùng đất mới khai khẩn, tách ra. Tổng cộng 17 xã, lý, ấp, trại.
- Ở Nam thôn Ninh Nhất, năm 1845, nhân dân Ninh Cường do cụ Vũ Đình Đoàn và Nguyễn Thế Mỹ làm đơn xin khai khẩn. Năm 1847, cụ Vũ Đình Đoàn được cử làm đầu mục cùng các họ Trần-Đỗ-Mai khai khẩn thôn Ninh Mỹ.
- Năm 1850, Nguyễn Khắc Nhượng (từ Ninh Khang- Ninh Cường) cùng tiên chỉ làng Ninh Cường là Phạm Cát xin khai khẩn được tổng đốc Thiên Trường chuẩn tấu. Các cụ cùng con em các họ Nguyễn-Đồng-Bùi-Phạm (tổng cộng 108 người) khai khẩn lập nên Ninh Cường Trại (1870).
- Năm 1891, các cụ Trần Duy Thâm, Tổng Hoạt, Tổng Cường, Chất, Phạm Khiêm khai khẩn vùng Ninh Cường Trại giáp Phú Lễ Ấp lập Phú Quý Lý cho dân Ninh Cường Trại ra ở.
- Năm 1889, cụ Nguyễn Ngọc Tương (từ Tang Trữ) cùng con Nguyễn Ngọc Chương (từ Cổ Lũng- Nam Dương- Nam Trực) cùng Nguyễn Khắc Cường (từ An Phú), Phạm Văn Xuân (từ Hậu Phú-Nam Trực), Lê Quang Khải (từ Vũ Lao), Trần Ngọc Quý (từ Nam Trực) khai khẩn vùng Nam sông Tân Khai. Năm 1890 lập thành Phú Văn Lý. Năm 1890, Tổng Ninh Mỹ được thành lập. Các vùng mới khai khẩn lập thành xã.
Đầu thế kỷ XX, gộp khu Nam Cồn, Long Châu lập thành xã Thịnh Long.
- Nhân dân Phú Ấp Lễ do ông Phùng Bá Tỉnh đại diện cho 80 hộ , nhận với Maron khai khẩn bãi bồi với điều kiện khẩn đến đâu trồng trọt đến đó nhưng bị Maron thu tô, nhà nước thu thuế. Năm 1907, khai khẩn thành công, Maron đem bán lại cho 6 thành (1 thành là 10 đinh, 8 đạc). Năm 1908, các thành nhận ấp đặt tên là Ấp Long Châu.
- Đời Thành Thái (1889-1907), các cụ Lâm Ngọc Chiếu, Phạm Văn Phát, Vũ Rinh xin khai khẩn khu đồng Nam Cồn (850 mẫu) bị Maron chiếm đoạt, bắt mua lại của y. Khu đất mới khai khẩn bị Maron chiếm, sau là Oánh tách ra khỏi xã Quần Anh lập thành 5 xã: Xuân Thuỷ, Hoàng Hải, Xuân Đài, Cồn Tròn, Xuân An.Từ 1937, Huyện Hải Hậu thăng lên thành phủ gồm 61 xã đến 1945 thành Huyện.

III. HUYỆN HẢI HẬU TỪ 1945 ĐẾN NAY
Năm 1948, để phù hợp với yêu cầu mới của cách mạng, Huyện quyết định lập 4 khu-18 xã.
KHU I: được lập từ 10 xã thuộc Tổng Quần Phương chia thành 4 xã:
- Xã Quần Anh (Quần Phương Thượng, Quần Phương Đông, Tứ Trùng Nam, Tả Hữu Giáo).
- Xã Trung Nam (Quần Phương Trung, Quần Phương Nam).- Xã Quần Phương (Quần Phương Hạ, Nam Thôn).
- Xã Minh Khai (Phương Đê, Giáp Thất).
KHU II: được lập từ 10 xã thuộc Tổng Kiên Trung và 1 xã thuộc Tổng Quế Hải chia thành 4 xã:
- Xã Phan Chu Trinh (Kiên Trung, Lạc Nam).
- Xã Hải Nam (Trà Trung, Hội Nam).-
 Xã Ái Quốc (Trà Hạ, Hà Quang, Thanh Quang, Hà Nam).
- Xã Hưng Đạo (Hà Lạn, Phúc Hải, Hải Nhuận).
KHU III: được lập từ 3 xã thuộc Tổng Tân Khai và Tổng Quế Hải lập thành 3 xã.
- Xã Tân Hưng (Xương Điền, Văn Lý, Hoà Định).
- Xã Quang Trung (Trùng Quang, Thanh Trà, Trung Phương).- Xã Xuân Phương (Doanh Châu, Liên Phú, Quế Phương, Xuân Hà).
KHU IV: được lập từ 7 xã thuộc Tổng Tân Khai; Tổng Ninh Nhất; Tổng Ninh Mỹ chia thành 7 xã:
- Xã Phúc An (An Lạc, An Phú, An Lễ, An Phong, Phúc Hải).
- Xã An Ninh (An Nghiệp, An Nhân, An Trạch, An Đạo, An Nghĩa).
- Xã Tứ Mỹ (Tang Văn, Tang Điền, Kiên Chính, Quần Phương Hạ Trại).
- Xã Phú Ninh (Ninh Mỹ, Ninh Cường, Phú Văn Quý, Phú Văn Lý).
- Xã Hải Châu (Phú Văn Nam, Phú Lễ, Thịnh Long).
- Xã Liên Phương (Quần Phương Thượng Trại, Quần Phương Trung Trại, Lục Phương, Quỳnh Phương).- Xã Liên Tiến (Xuân Thuỷ, Hoàng Hải, Xuân Đài, Cồn Tròn, Xuân An).
Do các xã Bắc huyện rộng, dai nên ngày 23/2/1952 một số xã được phân tách ra:
- Xã Quần Anh chia thành xã Quần Anh và xã Phương Anh.
- Xã Trung Nam chia thành xã Trần Phú và xã Hoàng Nam.
- Xã Quần Phương chia thành xã Quần Phương và xã Tân Anh. Ngày 15/10/1953 theo Nghị quyết 224/Ttg quy định tất cả các xã ở Hải Hậu đều có chữ Hải ở đầu và bỏ khu. Xã Quần Anh thành xã Hải Anh; xã Phương Anh thành xã Hải Đường; xã Trần Phú thành xã Hải Trung, xã Hoàng Nam thành xã Hải Long, xã Quần Phương thành xã Hải Phương, xã Tân Anh thành xã Hải Tân, xã Minh Khai thành xã Hải Minh, xã Hải Nam giữ nguyên, xã Phúc An thành xã Hải Phong, xã Tân Hưng thành xã Hải Lý, xã Quang Trung thành xã Hải Quang, xã Hải Châu giữ nguyên, xã Tứ Mỹ thành xã Hải Triều, xã Liên Phương thành xã Hải Phú, xã Phú Ninh thành 2 xã Hải Ninh và Hải Giang, xã Liên Tiến thành 2 xã Hải Xuân và Hải Hoà, xã Ái Quốc thành 2 xã Hải Thanh và Hải Hà, xã Hưng Đạo thành 2 xã Hải Phúc và Hải Lộc, xã An Ninh thành 2 xã Hải An và Hải Toàn, xã Xuân Phương thành 2 xã Hải Đông và Hải Tây, xã Phan Chu Trinh thành 3 xã Hải Vân (riêng thôn Trung Thành tách sang Hải Nam), Hải Hưng và Hải Thắng. Năm 1956, để ghi danh một cán bộ cải cách ruộng đất từ trần, Huyện đã thành lập xã Hải Lương (từ xã Xương Điền cũ).
Đầu năm 1956, theo quyết định của uỷ ban nhân dân và uỷ ban hành chính Huyện, quyết định chia tách một số xã:
- Xã Hải Anh thành xã Hải Anh và xã Hải Hùng.
- Xã Hải Đường thành xã Hải Đường và xã Hải Cát.
- Xã Hải Trung thành xã Hải Trung và xã Hải Thành.
- Xã Hải Long thành xã Hải Long và xã Hải Sơn.
- Xã Hải Phương thành xã Hải Phương và xã Hải Bắc.
- Xã Hải Tân thành xã Hải Tân và xã Hải Tiến.
- Xã Hải Minh thành xã Hải Minh và Hải Bình.
- Xã Hải Châu thành xã Hải Châu và xã Hải Thịnh.
- Xã Hải Triều thành xã Hải Triều và xã Hải Chính.
- Xã Hải Phú thành xã Hải Phú và xã Hải Cường.
- Xã Hải Nam tách thôn Trung Thành sáp nhập vào xã Hải Vân và sáp nhập thôn Hội Khê Ngoại (Xuân Hoà-Xuân Trường), Trại Hà Quang (Hải Phúc) vào. Năm 1958 sáp nhập xã Hải Lương vào xã Hải Lý.
Theo quyết định của Chính phủ năm 1958 lấy một phần của 2 xã Hải Tiến và Hải Tân để thành lập thị trấn Cồn. Huyện lỵ được đặt ở Thị trấn Cồn.
Ngày 26/3/1968 theo quyết định 263/CP cắt 7 xã Trực Đại, Trực Tiến, Trực Thắng, Trực Thái, Trực Cường, Trực Phú, Trực Hùng từ Huyện Trực Ninh vào Huyện Hải Hậu.
Ngày 18/12/1976 theo Quyết định 1506/CP về hợp nhất các xã:
- Xã Hải Đường và xã Hải Cát thành xã Hải Đường.
- Xã Hải Trung và xã Hải Thành thành xã Hải Trung.
- Xã Hải Tiến và thị trấn Cồn thành thị trấn Cồn.
- Xã Trực Đại và xã Trực Tiến thành xã Trực Đại.
Ngày 28/8/1971 theo Quyết định 223/CP hợp nhất xã Hải Bình và xã Hải Minh thành xã Hải Minh.
Ngày 27/6/1977 theo Quyết định 135/CP về hợp nhất các xã:
- Xã Hải Hưng và xã Hải Thắng thành xã Hải Hưng.
- Xã Hải Anh và xã Hải Hùng thành xã Hải Anh.
Ngày 1/4/1986, theo Quyết định 34/HĐBT cắt 31,72ha xã Hải Bắc; 64,5 ha xã Hải Đường; 79,04 ha xã Hải Hưng để thành lập thị trấn Yên Định. Huyện lỵ chuyển về thị trấn Yên Định.
Ngày 26/2/1997, theo Nghị định 19/CP, thành lập thị trấn Thịnh Long từ toàn bộ diện tích xã Hải Thịnh và cắt 6 xã Trực Đại, Trực Thắng, Trực Thái, Trực Cường, Trực Phú, Trực Hùng khỏi Huyện Hải Hậu để tái lập Huyện Trực Ninh.
Hiện nay, Huyện Hải Hậu có 32 xã (Hải Nam, Hải Vân, Hải Phúc, Hải Lộc, Hải Hà, Hải Thanh, Hải Quang, Hải Đông, Hải Tây, Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều, Hải Hòa, Hải Châu, Hải Ninh, Hải Phú, Hải Cường, Hải Xuân, Hải Tân, Hải Sơn, Hải Đường, Hải Phong, Hải Toàn, Hải Giang, Hải An, Hải Long, Hải Phương, Hải Hưng, Hải Bắc, Hải Trung, Hải Anh và Hải Minh) và 3 thị trấn (Yên Định (huyện lỵ), TT  Cồn, TT Thịnh Long.
Nguồn : tư liệu Hải Hậu

Tin tức tỉnh Nam Định

Nam Định - mảnh đất Xứ Nam, quê hương nhà Trần, lừng lẫy hào khí Đông A – “ non sông muôn thủa vững âu vàng“. Một mảnh đất có vị thế hết sức đặc biệt trong suốt tiến trình lịch sử Việt Nam. Đó là miền đất văn hiến,” địa linh, nhân kiệt”, nơi sinh dưỡng biết bao trạng nguyên, khôi nguyên và nhiều trí thức làm rạng danh non sông đất nước; một vùng văn hoá đặc sắc, hoà quyện và đan sen văn hoá biển và văn hoá châu thổ, văn hoá bác học và văn hoá dân gian. Mảnh đất Xứ Nam đất hẹp người đông, đầu sóng ngọn gió ấy đang vươn lên hội nhập vào xu thế phát triển của đất nước và thời đại.

 Nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Nam Định có diện tích tự nhiên 1641,3km2, bằng 0,5% diện tích cả nước. Tỉnh Nam Định phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía tây giáp Ninh Bình, phía nam và đông nam giáp biển Đông, phía bắc giáp Hà Nam.
Là mảnh đất nằm giữa hai con sông lớn: sông Hồng và sông Đáy tạo nên địa giới tự nhiên giữa Nam Định với hai tỉnh Ninh Bình, Thái Bình. Sông Đào phân chia Nam Định thành hai vùng Nam - Bắc. Sông Ninh Cơ, sông Sò là giới hạn các huyện trong tỉnh. Nam Định có bờ biển dài 72km, vùng kinh tế giàu tiềm năng có khả năng triển khai, thực hiện nhiều đề án phát huy thế mạnh kinh tế biển của tỉnh.
Theo các công trình nghiên cứu khoa học, miền đất Nam Định hình thành cách đây khoảng 70 triệu năm do ảnh hưởng tạo sơn thời kỳ Đại Tân Sinh, nâng ghềnh phía nam sông Hồng cao lên, biển Đông lùi dần và từng bước hình thành đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Dấu tích các loài động - thực vật có ở các vùng biển và những hóa thạch tìm thấy trong lòng đất cho thấy: đây là vùng đất mầu mỡ, phì nhiêu, tạo cơ hội cho con người quần tụ thành cộng đồng đông vui và khá sầm uất.
Mảnh đất Nam Định đựơc chia thành hai vùng tự nhiên. Phía tây bắc trước đây là những ô trũng thường bị ngập úng quanh năm và có một số đồi núi đứng chơ vơ: núi Gôi (Côi Sơn), núi Ngăm (Trang Nghiêm), núi Nề (Thanh Nê), núi Hồ (Hồ Sơn); núi Tiên Hương, núi Phương Nhi, núi Ngô Xá, núi Mai Sơn thuộc hai huyện Vụ Bản, Ý Yên. Đồi núi của Nam Định không cao và có dòng chảy của khe ngòi liền kề tạo lên cảnh non nước hữu tình. Non Côi - Sông Vị là biểu tượng của Nam Định được cả nước biết đến. Phía nam tỉnh được phù sa Sông Hồng, Sông Đáy bồi đắp nên miền đất này tương đối bằng phẳng, phì nhiêu.


Song để làm nên vùng non nước hữu tình, mồ hôi, nước mắt và cả máu của biết bao thế hệ người dân đã đổ xuống nơi đây để quai đê, ngăn mặn, khai phá sông ngòi, đào ao, vượt thổ tạo nên vùng đồng quê trù phú. Từ xa xưa, người nguyên thuỷ từ miền núi cao đã di cư xuống vùng đồng bằng do biển lùi dần về phiá nam. Các dấu vết con người ở đây được xác định thuộc hậu thời kỳ đồ đá mới hoặc sơ kỳ thời đồ đồng cách đây chừng 5.000 năm. Công cuộc di cư và những tiến bộ trong trồng trọt, chăn nuôi, khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối..... đã tạo nên làng ấp. Dần dà, dân cư đến quần tụ tại vùng đất này ngày một đông, góp phần hình thành cộng đồng cư dân có chung mục đích, đoàn kết, hợp sức đấu tranh với thiên nhiên. Vì thế, cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên của con người nơi đây là bản anh hùng ca của nhiều thế hệ kế tiếp nhau, làm phong phú thêm nét đẹp truyền thống văn hoá làng, xã, tuy bình dị nhưng giàu tính nhân văn và liên tục phát triển.
Thời thuộc Đường, Nam Định thuộc huyện Chu Duyên. Đời Trần được gọi là lộ Thiên Trường, sau lại chia làm 3 lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng Giang. Thời thuộc Minh, vùng đất này được chia làm 3 phủ: Trấn Nam, Phụng Hoá, Kiến Bình. Đời lê, thuộc xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm 1741, vùng đất này thuộc lộ Sơn Nam Hạ. Đến triều Nguyễn, năm 1832 đổi tên thành tỉnh Nam Định, với 4 phủ, 18 huyện bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay. Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng. Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện.
Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ và 7 huyện, 78 tổng, 708 xã (phủ là cấp trung gian, tương đương với cấp huyện). Riêng thành phố Nam Định có 10 phường, đến những năm 1930, địa giới hành chính của tỉnh Nam Định không có nhiều thay đổi.

Sau cách mạng tháng tám năm 1945, các đơn vị hành chính trong tỉnh luôn có sự thay đổi. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh Nam Định thuộc liên khu ba. Năm 1953, 7 xã Bắc sông Đào thuộc huyện Nghĩa Hưng được cắt nhập vào huyện Ý Yên. Đồng thời, 03 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên nhập vào tỉnh Hà Nam. Đến tháng 4-1956, 03 huyện này lại được cắt trả cho tỉnh Nam Định.Tháng 5-1965, Nam Định hợp nhất với tỉnh Hà Nam thành tỉnh Nam Hà. Cuối năm 1967, 02 huyện Giao Thuỷ và Xuân Trường hợp thành huyện Xuân Thuỷ. Tháng 3 - 1968, 07 xã phía nam sông ninh Cơ thuộc huyện Trực Ninh nhập với huyện Hải Hậu, 02 huyện Trực Ninh, Nam Trực nhập thành huyện Nam Ninh. Năm 1976, Nam Hà và tỉnh Ninh Bình hợp nhất thành tỉnh Hà Nam Ninh. Đến năm 1991, lại chia tách và tái lập tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình.Tháng 11 – 1996, tách tỉnh Nam Hà để tái lập 02 tỉnh là Nam Định và Hà Nam. Sau đó, trong nội bộ tỉnh Nam Định, các huyện hợp nhất trước đây lại được chia tách và tái lập như cũ, đó là: Xuân trường, Trực Ninh, Giao Thuỷ, Nam Trực và tái lập huyện Mỹ Lộc (gồm 10 xã). Năm 1997, xã Nam Vân, Nam Phong được cắt nhập từ huyện Nam Trực về thành phố Nam Định. Như vậy, đến cuối thế kỷ XX, tỉnh Nam Định có 10 đơn vị hành chính, bao gồm: 1 thành phố và 9 huyện, 225 xã phường, thị trấn.
 
Mảnh đất địa linh, nhân kiệt
Nam Định là mảnh đất “địa linh, nhân kiệt”, nơi phát tích của triều Trần (thế kỷ XIII – XIV) và sinh dưỡng nhiều danh nhân, danh sĩ, võ tướng mà tên tuổi và sự nghiệp của họ đã được sử sách ghi công, nhân dân tôn thờ mà nổi bật là Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Nam Định là đất văn hiến, có truyền thống hiếu học, với trường thi được lập từ thời Lê ở làng Năng Tĩnh. Trong chế độ khoa bảng thời phong kiến, Nam Định có 5 trạng nguyên, 3 bảng nhãn, 3 thám hoa, 14 hoàng giáp, 62 tiến sĩ và phó bảng, riêng làng cổ Hành Thiện có 91 vị đỗ đại khoa và cử nhân. trong đó nổi danh là Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Đào Sư Tích, Vũ Tuấn Chiêu, Trần Văn Bảo, Trần Bích San,...
Với bản chất lao động cần cù, cùng truyền thống đoàn kết, nhân dân Nam Định đã chinh phục thiên nhiên. Truyền thống đó ngày càng được hun đúc và phát huy mạnh mẽ mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm. Nam Định cũng là đất thượng võ, thời nào cũng có tướng sĩ tài giỏi.


Đời Trần, nhân dân Nam Định đã góp phần ba lần đánh thắng đế quốc Nguyên – Mông. Thời thuộc Minh, nhân dân ủng hộ nghĩa quân của Trần Triệu Cơ đánh thắng trận Bồ Đề, buộc tướng Mộc Thạch tháo chạy về thành Cổ Lộng. Trong khởi nghĩa nam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, người dân Nam Định đã bí mật liên hệ với nghĩa quân giết giặc, cứu nước. Đặc biệt với nghề rèn truyền thống, người dân Vân Chàng đã ngày đêm rèn vũ khí cho nghĩa quân. Ở Cổ Lộng - Chuế Cầu (Ý Yên), nhân dân còn tham gia nghĩa quân Lam Sơn đánh thành Cổ Lộng giúp nghĩa quân tiến lên phía bắc tiêu diệt giặc Minh.
Khi nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy kéo quân ra Bắc, người Nam Định đã tích cực tham gia lập phòng tuyến Tam Điệp góp phần làm cuộc thần tốc đánh đuổi giặc Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long. Dưới triều Nguyễn, do chính sách cai trị hà khắc khiến nhân dân khổ cực, người dân Nam Định đã hợp sức nổi dậy chống lại quan quân triều đình Huế.Trong đó, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của nông dân do Phan Bá Vành chỉ huy.
Khi giặc đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) xâm lược nước ta, Phan Văn Nghị đã tập hợp nghĩa sĩ Nam Định tiến vào Nam diệt thù. Thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ và Nam Định, đề đốc Lê Văn Điểm, án sát Hồ Bá Ôn đã chỉ huy quân chiến đấu ngoan cường bao vây quân địch. Phong trào Cần Vương được nhân dân trong tỉnh hưởng ứng, trong đó có cuộc nổi dậy ở Nam Trực do cụ Nghè Giao Cù Hữu Lợi và cụ Vũ Đình Lục(Chỉ Sáu) chỉ huy.
Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến tay sai ra sức khai thác, vơ vét tài nguyên, áp bức, bóc lột nhân dân thậm tệ. Trong đó, thực dân Pháp đã xây dựng nhà máy dệt Nam Định lớn nhất Đông Dương, song chính sự ra đời của nhà máy này đã tạo điều kiện khách quan để giai cấp công nhân trong tỉnh hình thành và không ngừng lớn mạnh. Không cam chịu cảnh bần hàn, công nhân, nông dân và một số tầng lớp dân cư đã đoàn kết đấu tranh đòi quyền lợi. Đặc biệt, kể từ khi Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh niên lập cơ sở ở Nam Định (1926-1927), phong trào đấu tranh không ngừng lớn mạnh, với mục đích đòi quyền dân sinh, dân chủ, mang ý thức chính trị và giai cấp rõ rệt. Tháng 6-1929, Tỉnh uỷ lâm thời được thành lập và chi bộ Đảng đầu tiên ở Nam Định ra đời, phong trào đấu tranh diễn ra mạnh mẽ từ thành thị đến nông thôn. Nam Định trở thành một trong những trung tâm đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến mạnh nhất cả nước.
Kể từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Nam Định đã viết tiếp những trang sử vàng chói lọi về truyền thống chống giặc ngoại xâm và lao động cần cù sáng tạo, xây dựng Nam Định ngày càng đàng hoàng hơn, giàu đẹp hơn.



Điều kiện kinh tế xã hội
Nam Định là một trong những tỉnh có dân số đông trong cả nước và là nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình hình thành cộng đồng cư dân Nam Định gắn liền với quá trình cư dân người Việt từ vùng tiền châu thổ tràn xuống lấn chiếm vùng châu thổ và duyên hải Bắc Bộ. Chính vì vậy, Nam Định là nơi hội tụ và là nơi hợp cư của nhiều bộ phận cư dân khác nhau, trong đó chủ yếu là từ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Sự hình thành cộng đồng cư dân ở Nam Định cũng đồng thời gắn liền với quá trình phát triển nền nông nghiệp thâm canh trên vùng đất phù sa màu mỡ. Chính vì vậy, mật độ dân số ở khu vực này là khá cao so với cả nước và với đồng bằng Bắc Bộ (trừ các đô thị Hà Nội, Hải Phòng…) Nhiều làng xã ở Nam Định như nhận xét của Gourou và Vũ Quốc Thúc có số lượng cư dân đông và mật độ dân số “lên đến mức kỷ lục”.

Theo các kết quả điều tra, Nam Định là tỉnh có dân số đông và lực lượng lao động khá lớn. Trong tổng số lao động, tỷ lệ nam thấp hơn so với nữ, nhưng ngược lại, tỷ lệ lao động nữ không có chuyên môn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động và so với nam giới. Tỉ lệ lao động không có chuyên môn cao: 90%, cao hơn mức bình quân ở đồng bằng sông Hồng là 84% và cao hơn mức bình quân của cả nước là 88,2%. Do đó, trong quy hoạch, đào tạo lao động cần chú ý đào tạo lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Trong cơ cấu lao động xã hội Nam Định, lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn gần 80% và nếu tính nhóm ngành nông nghiệp thì tỷ lệ này chiếm trên 80% (năm 1996), so với bình quân cả nước là 70% (năm 1990). Nam Định là một trong những tỉnh có tỷ lệ cư dân thành thị thấp so với khu vực nông thôn.
Hiện nay với dân số trên 1,8 triệu người, vốn cần cù, thông minh, giàu tài năng, nhưng GDP bình quân trên đầu người vẫn thấp so với các tỉnh trong khu vực và trong cả nước. Do đó cần xác định chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở khu vực này. Dân cư Nam Định có trình độ học vấn cao hơn nhiều địa phương khác. Người dân Nam Định có truyền thống hiếu học. Trong cơ chế thị trường hiện nay, giáo dục Nam Định vẫn không ngừng phát triển, tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục trong tổng chi tiêu địa phương (năm 1998) cao nhất cả nước. Rõ ràng, khâu đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn kỹ thuật là có điều kiện nhưng chưa được phát huy có hiệu quả. Thực trạng lao động hiện nay cho thấy, tuy dồi dào, nhưng chất lượng còn hạn chế. Cơ cấu lao động chuyển đổi chậm, thị trường lao động chưa phát triển, sự tăng trưởng chất lượng lao động chậm.
Mặc dù là địa phương có GDP bình quân ở mức trung bình so với mức bình quân trong cả nước, nhưng Nam Định lại có chỉ số phát triển con người cao. Nam Định là địa phương đã có đầu tư ngân sách rất cao so với GDP trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và là một trong những tỉnh có an ninh lương thực cao ở đồng bằng Bắc Bộ. Số hộ có nhà ở chiếm tỷ lệ cao và nhu cầu về nhà ở của người dân Nam Định về cơ bản đã được đáp ứng. Tỷ lệ dân số được tiếp cận với nước sạch, sử dụng điện thắp sáng, điện thoại cao hơn nhiều tỉnh trong khu vực. Hệ thống giao thông, y tế, giáo dục phát triển mạnh; chính vì vậy, khi phân tích chỉ số HDI, Nam Định được xếp vào nhóm các tỉnh, thành phố có chỉ số phát triển con người cao. Đó là những thành tựu rất to lớn trong chiến lược phát triển con người.
Nam Định là một vùng văn hoá tiêu biểu và đặc sắc, với tính cách đặc trưng của miền “giao thuỷ”. Ăn, mặc, ở, đi lại của người Nam Định vừa là sự thích nghi, hoà đồng của con người với tự nhiên, vừa là sự tận dụng và khai thác của con người đối với môi trường tự nhiên ven sông, gần biển. Trên cái nền tín ngưỡng dân gian, của tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thành hoàng tại vùng phía Bắc của Nam Định, được quan niệm là một vùng “không gian thiêng” đã là nơi khởi phát và trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu và thờ Đức thánh Trần. Vùng ven biển Nam Định lại là nơi đầu tiên tiếp nhận và sớm trở thành mảnh đất màu mỡ cho Thiên chúa giáo nẩy mầm, bén rễ, trở thành một trung tâm Thiên chúa giáo lớn. Cả Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo và các tín ngưỡng dân gian khác đều song song tồn tại, phát triển, thậm chí có khi hoà đồng trong mỗi làng xã, mỗi gia đình, làm cho đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Nam Định thật nổi trội, phong phú và độc đáo.
Nam Định là một vùng quê văn hiến, một môi trường văn hoá tổng hợp, hoà quyện và đan xen văn hoá biển với văn hoá miền châu thổ, văn hoá bác học với văn hoá dân gian, văn minh đô thị với văn minh thôn dã, giá trị tinh thần truyền thống với tác phong công nghiệp hiện đại… Nam Định là một vùng đất học với nhiều trường học nổi tiếng và nhiều thầy giỏi, trò ngoan, nhiều người người đỗ đạt cao, nhiều nhà văn hoá lớn, nhiều thành tựu khoa học, văn học, nghệ thuật ngang tầm quốc gia, quốc tế.
Tựu trung lại, Nam Định là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo, một vùng kinh tế, văn hoá, văn hiến tiêu biểu và có vị thế đặc biệt trong suốt chiều dài lịch sử đất nước.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Nam Định đang hội tụ được cả hai lợi thế rất căn bản là kinh tế biển và công nghiệp dệt – may. Nam Định lại là nơi có nguồn lao động rất dồi dào và chất lượng lao động đang ngày một nâng cao cùng với sự nâng cao của trình độ văn hoá, học vấn, tay nghề và sự năng động, nhanh nhạy trong cơ chế thị trường. Nam Định có hướng đầu tư đúng và có chỉ số phát triển con người cao. Lợi thế này không còn ở dạng tiềm năng mà đang trở thành hiện thực sinh động.
Nam Định đang dần dần hội tụ được các yếu tố “thiên thời”, “địa lợi” và “nhân hoà” để phát triển

Nguồn : Tư liệu tỉnh Nam Định

Danh sách ban Chấp hành

Danh sách hội viên

Góc sáng tạo










Góc tâm sự